Giữa đại dịch Covid-19, Việt Nam ứng phó kịp thời với biến động kinh tế

0
32
Việt Nam đã đưa ra những động thái quyết liệt để giải quyết các vấn đề kinh tế trong đại dịch Covid-19. Liệu cách thức ứng phó với biến động kinh tế này có thể trở thành một hình mẫu lý tưởng cho các quốc gia khác?

GS. TS. Andreas Stoffers – tác giả bài viết.

Thế giới đang chao đảo trong khủng hoảng của đại dịch viêm đường hô hấp cấp Covid-19 do virus SARS-CoV-2 gây ra. Đại dịch này chắc chắn không phải nguồn gốc nhưng có thể là nguyên nhân dẫn tới sự suy yếu kinh tế trên thế giới trong thời gian qua. Sau cuộc suy thoái kinh tế năm 2008, một số cá nhân dường như đã quên rằng, các cuộc khủng hoảng kinh tế vẫn luôn tồn tại và có thể xảy ra bất cứ lúc nào.

Trong các cuộc khủng hoảng kinh tế, sẽ có cả người thắng và kẻ thua. Tuy nhiên, thắng hay thua sẽ phụ thuộc vào cách các quốc gia đối diện với khó khăn và đưa ra những chính sách kinh tế như thế nào.

Phản ứng nhanh và quyết liệt

Chính phủ Việt Nam đã phản ứng với đại dịch Covid-19 rất nhanh và quyết liệt. Đặc biệt, các chính sách kinh tế của Việt Nam dường như khá phù hợp với tình hình. Thứ nhất, Chính phủ đã đưa ra gói tín dụng 250 nghìn tỷ đồng, gói hỗ trợ 30 nghìn tỷ đồng. Thứ hai, Ngân hàng Nhà nước (SBV) hạ lãi suất tái cấp vốn giảm từ 6,0%/năm xuống 5,0%/năm, lãi suất tái chiết khấu từ 4,0%/năm xuống 3,5%/năm. Thứ ba, Bộ Tài chính cũng đề xuất một vài công cụ kinh tế liên quan đến miễn giảm và gia hạn thuế và phí.

Có thể nói, gói tín dụng mà Chính phủ Việt Nam đưa ra tiềm ẩn ít nguy cơ lạm phát. Bởi lẽ, 250 nghìn tỷ đồng sẽ có ít nguồn cung tiền mới được bơm ra thị trường, khoản tiền này sẽ dùng để gia hạn các khoản vay, giảm hoặc gỡ bỏ lãi suất, giảm các chi phí giao dịch… Hay nói cách khác, gói tín dụng này nhằm mục đích “bôi trơn” các bánh răng trong nền kinh tế, giúp các doanh nghiệp vận hành. Như vậy, dù nguồn lợi của các ngân hàng có thể giảm nhưng ít nhất, họ duy trì được tính thanh khoản.

Mục đích của gói hỗ trợ 30 nghìn tỷ là để giảm thuế hoặc giãn thời gian trả thuế. Và tương tự như gói 250 nghìn tỷ, gói hỗ trợ này cũng ít khả năng gây lạm phát, góp phần giúp các doanh nghiệp duy trình tính thanh khoản trong tài chính của họ.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất là đảm bảo hỗ trợ đúng những đơn vị cần được ưu tiên hỗ trợ. Hiển nhiên, khi nguồn lực có hạn thì không nên sử dụng đại trà. Đồng thời, đảm bảo, nguồn tiền được sử dụng cẩn thận, tránh các rủi ro về lạm phát và lấy đi các nguồn chi trả cho chính sách tài khóa. Không ai biết trước đại dịch sẽ kéo dài bao lâu. Những phản ứng tài khóa tức thời sẽ ngày càng quan trọng và điều đó yêu cầu một nguồn lực thực sự bền vững.

Việc SBV cắt giảm lãi suất cũng là một tín hiệu quan trọng và cần thiết. Những chính sách đó có thể cho phép các công ty vay vốn với lãi sất thấp. Khác với Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) hay Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), với mức lãi suất hạ thấp tới mức 0% từ 2016 (ECB) và 16/3/2020 (Fed), SBV vẫn còn chưa sử dụng hết “đạn” của mình.

Nói rõ hơn, ECB có thể tiếp tục hỗ trợ thị trường của họ thế nào thông qua các công cụ về lãi suất không? Lãi suất âm chính là nguyên nhân khiến các cá nhân đổ dồn sang nắm giữ tiền mặt và tất nhiên đây là điều không ai muốn. Sự đi xuống của nền kinh tế có thể gây ra thêm nhiều thất vọng và cuối cùng sẽ là sự mất kiểm soát tuyệt đối.

Thậm chí đến nay, việc ECB duy trì lãi suất 0% cũng gây ít nhiều khó khăn cho các ngân hàng châu Âu. Thường thì đến 70-80% lợi nhuận của Ngân hàng đến từ biên lãi ròng. Nhưng với mức lãi suất 0%, biên lãi ròng gần như là không có. Các khoản vay với mức lãi suất rất thấp cho phép các “công ty ma” tồn tại và bong bóng tài chính hoàn toàn có thể xảy ra.

Tại Việt Nam, tình hình có vẻ khả quan hơn. SBV vẫn còn nhiều khoảng trống trong sử dụng công cụ lãi suất. Tuy nhiên, bài học của châu Âu chính là lời cảnh báo với các quyết định lãi suất điều hành 0%.

Hiển nhiên, chính sách của Việt Nam cũng kéo theo rủi ro, chẳng hạn, nợ quốc gia sẽ tăng. Kể từ năm 2016, nợ quốc gia đã gần mức trần 65%, điều đó khiến Nhà nước có ít không gian để vay thêm. Ngoài ra, có thể xảy ra việc các công ty phụ thuộc quá nhiều vào sự hỗ trợ của Chính phủ thay vì tự mình tìm cách thoát khỏi khủng hoảng – đây mới thực sự là điều sẽ khiến họ trở nên mạnh mẽ hơn.

Những chính sách kinh tế gần đây của Việt Nam dường như khá phù hợp với nền kinh tế. (Ảnh: Lê Tiến)

Tại thời điểm này, có 7 điều Việt Nam cần lưu ý:

Thứ nhất, việc tiếp tục cung cấp các gói viện trợ khẩn cấp là không cần thiết. Ở đây, các biện pháp nêu trên là hướng đi đúng đắn nhưng nên cân nhắc nếu được tiếp tục sử dụng.

Thứ hai, các nguồn viện trợ nên được hướng tới thúc đẩy đầu tư của khu vực tư nhân.

Thứ ba, tăng cường thương mại điện tử hoặc đa dạng hóa các nhóm khách hàng có thể là hai giải pháp khả thi để tăng sự luân chuyển của hàng hóa.

Thứ tư, vì tính hiệu quả và minh bạch, doanh nghiệp nhà nước không nên là đối tượng hưởng lợi nhiều từ bất kỳ khoản trợ cấp nào. Thay vào đó, các doanh nghiệp vừa và nhỏ nên được ưu ái hơn.

Thứ năm, kiểm soát giá quá chặt từ phía nhà nước sẽ phản tác dụng và khiến “méo mó” thị trường. Nên tránh kiểm soát giá để ngăn chặn các ảnh hưởng phụ như lãng phí tài nguyên, chi phí chờ đợi và đầu tư thấp.

Thứ sáu, các khoản hỗ trợ về mặt xã hội như trợ cấp thất nghiệp chắc chắn phù hợp để hỗ trợ công dân bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh.

Thứ bảy, theo trường hợp EU, không nên áp dụng chính sách lãi suất bằng 0 tại Việt Nam.

Có thể tin tưởng rằng Việt Nam sẽ trở nên mạnh mẽ hơn sau những biến động kinh tế nhờ vào các gói hỗ trợ. Và dường như, chính sách chống khủng hoảng của Việt Nam có thể đóng vai trò là hình mẫu cho những quốc gia khác trong cuộc chiến chống đại dịch Covid-19.

GS.TS. Andreas Stoffers – Giám đốc Quốc gia của Tổ chức Friedrich Naumann for Freedom (FNF) tại Việt Nam có 18 năm kinh nghiệm thực tiễn trong lĩnh vực ngân hàng tại Đức và Đông Nam Á.

FNF là một tổ chức phi lợi nhuận của Đức, hoạt động tại Việt Nam từ năm 2012 với mục tiêu thúc đẩy nền kinh tế thị trường thông qua các dự án hợp tác, hoạt động đối thoại, hội thảo và trao đổi học thuật giữa Việt Nam và Đức

GS.TS. Andreas Stoffers/TG&VN